Dương Thu Hương - Con Sói Đơn Độc Của Hà Nội |
![]() ![]() |
Dương Thu Hương - Con Sói Đơn Độc Của Hà Nội |
Sep 3 2007, 12:39 PM
Post
#1
|
|
![]() Lớp 5 ![]() ![]() ![]() ![]() ![]() Group: Sinh Viên Posts: 578 Joined: 2-June 06 Member No.: 7,542 |
Báo Pháp Viết Về Dương Thu Hương
Con Sói Đơn Độc Của Hà Nội --------------------------------------------------------------------------------
bndthuong.jpg ( 10.51K )
Number of downloads: 2Manuel Carcassonne Le FIGARO - 16 février 2006 Bị khai trừ khỏi Đảng Cộng Sản năm 1990 vì tội vô kỷ luât, bị quản chế, nữ tiểu thuyết gia nổi tiếng thế giới, Dương Thu Hương, xuất bản Chốn Vắng « Terre des oublis », một tuyệt tác của bà. "Quý vị ngây thơ!” Dương Thu Hương nhấn mạnh từng chữ như để cho mọi người hiểu. Câu hỏi của chúng tôi, về phúc lợi của nền kinh tế thị trường tại một nơi chủ nghĩa độc tài Cộng Sản ngự trị, khiến bà cho rằng chúng tôi chẳng có đủ tư cách để hiểu thế nào là một chế độ bách hại, làm thịt người. Bà, một người đã từng ở tù vì nó. Bà nói đúng. Chúng tôi là những đứa con cưng của một nền dân chủ bạc nhược, trong khi ở nơi bà, cái nghị lực để nhấn mạnh một câu nói như thế đó, là của một nữ chiến sĩ, là để sống còn trong một môi trường thù nghịch. Làm sao chúng ta có thể tưởng tượng được hồi kết cục của những tự do của chúng ta? Làm sao bà vượt qua được hai người đàn ông canh chừng và áp dẫn bà đến tận phi cơ? Làm sao sống lại tuổi thanh xuân đã bị đánh mất, đã bị phong thánh bằng tử đạo, đạo Cộng Sản? Nữ tiểu thuyết gia tuổi sáu mươi, điệu đàng lịch sự - bà sinh năm 1947 ở Thái Bình - không thích nhập nhằng, ít nhất là trong việc công kích chế độ, giữa cái khiêu khích khiến bị đòn nhừ tử và cuộc chiến đấu chân chính. Thế hệ của bà kết hôn với những lý tưởng sáng suốt bất thần của những cựu bạn đường của Đảng Cộng Sản. Cộng Sản mà như thế này, như hiện nay, là tha hóa, là phản bội lý tưởng. Tuổi trẻ của bà với những khẩu hiệu không tưởng, mặc đồ trận, chạy tránh bom ở vĩ tuyến 17, vùng lửa đạn, vùng bị bom Mỹ dội nhiều nhất ở miền Bắc trong chiến tranh Việt Nam. Vỡ mộng Vào năm 20 tuổi, bà chiến đấu trong lữ đoàn tình nguyện của chiến dịch “Tiếng hát át tiếng bom”, chỉ nội cái tên đủ nói lên tham vọng của lữ đoàn. Bà ở trong quân đội đến năm 1975, phung phí sức lực cho một cuộc chiến bất chính, giết người, và cái học, ở bên ngoài những bức tường, của một nữ tiểu thuyết gia, là về miền điên rồ: những người đàn ông lang thang trong chiến hào, hóa rồ hoá dại, cụt tay què cẳng. bị nướng bằng bom lửa, những người đàn bà vượt cạn một mình, cũng trên mảnh đất điên rồ đó. Ý thức hệ, lý tưởng làm nên chuyện tầy trời, thép đã tôi là như thế: thứ xi măng nắng mưa, thời gian không sao soi mòn, không sao thẩm thấu. Ôi chao, cả một niềm tin “đường ra trận mùa này đẹp lắm” cuối cùng chỉ là phí phạm, vứt đi, bà buồn rầu nói. Đến một ngày, người nữ binh đoàn hiểu, thì ra người ta làm thịt cả những người Việt ở Miền Nam, những đồng bào của bà, mà bà thấy chẳng có lý do nào để làm thịt họ. Vỡ mộng, bà làm việc để nuôi gia đình với chức vụ “biên tập viên biên chế cho các phim trường sản xuất phim giả tưởng ở Hà Nội,” 600 nhân viên biên chế, biên tập những kịch bản chẳng bao giờ quay thành phim, kiểm duyệt dễ dàng chóng vánh, chẳng có gì nguy hiểm ở trong đó. Tháng Tư năm 1990, trong một buổi họp của hiệp hội các nhà trí thức ở Sàigòn, có một người, hẳn nhiên có ý xấu, đã hỏi bà: “Tổng thống mới của Tiệp là một nhà văn, bà sẽ là một Vaclav Havel của Việt Nam?” Câu trả lời chỉ làm đám cầm quyền điên tiết. Chẳng phải chờ lâu, chỉ một thời gian ngắn sau đó, bà được họ ban cho bẩy tháng sáu ngày tù giam, trong một xà-lim, được khai trừ ra khỏi Đảng Cộng Sản. Bây giờ, bà bị quản chế, bị theo dõi, bị giam hãm trong sự cô đơn, lâu lâu cũng có những cuộc du lịch bất thường, gặp gỡ người nước ngoài, Pháp hay Mỹ. Nhưng, gì thì gì, người nữ cựu đảng viên, nhà nữ ly khai, chống đối, nhà nữ quyền đã từng được Jacques Toubon vinh danh vào năm 1995, nhà nữ tiểu thuyết gia giầu sáng tạo này không rời Việt Nam. “Tôi chọn ở lại Việt Nam để chơi một cuộc chơi mà tôi bằng lòng với nó. Tôi là người chống cự, cưỡng lại, từ vùng ven. Một kẻ đứng bên lề được sự hỗ trợ bởi cuộc chiến đấu của những Phật tử, những tín đồ Ky tô, những người theo đạo Tín Lành. Họ bảo vệ những người bị bắt giữ, những tù nhân chính trị. Người ta sỉ nhục tôi, vu khống tôi, bỏ tù tôi, nhưng tôi vẫn tiếp tục viết, tiếp tục nói, tôi nhìn thấy điều tôi muốn. Chúng tôi phải nắm số phận mình, dù đau đớn cỡ nào, ở trong tay. Tôi là con sói đơn độc.” Một bức tranh ấn tượng Rạch ròi từng chữ, lông mày nhíu lại, mỉm cười tùy lúc, Dương Thu Hương đúng là bức tranh một đảng viên ly khai ở Paris. Linh hoạt cắt cái rụp. Phản ứng nhanh như cắt. May còn có quyển sách: 800 trang, một bức tranh giầu ấn tượng, vừa riêng tư vừa lịch sử, vừa của riêng vừa của nhiều người, của cả một thời đại. Nhưng nhất là, đọc hấp dẫn, đọc thích thú, cứ như thể từ hồi còn mài đũng quần trên ghế nhà trường đến bây giờ mới lại có được. Nữ tiểu thuyết gia viết dài, rộng, và, rộng luợng, viết từng chuỗi chuyện thú vị, cảm giác sáng chói, từng trang sách giống như là một nơi chốn để tái nhập thân, cho một thứ côn trùng, loài phù du sống hết đời mình trong một đêm để kịp chết vào lúc hừng đông, thứ trái cây ngọt lịm, người đàn bà quỳ gối trong mảnh ruộng, người lính tàn lụi đi vì những vết cháy bỏng của cuộc chiến giữa đất nước Lào và vùng núi xanh, những con ma của quá khứ và những ảo tưởng của hiện tại. Không thiếu những chi tiết hấp dẫn, gợi cảm lúc mơn trớn lúc quất mạnh: “Da của nó lấp lánh dưới ánh nến, trắng như mỡ lá đông lạnh hay vỏ trứng. Nó có làn da của Miên. Cũng có thể là làn da của cha nó, người đàn ông ở với Miên từ bảy năm nay.” [Đây là dịch từ bản tiếng Pháp, của người điểm sách. Chưa tìm được nguyên tác tiếng Việt. CTND] Câu chuyện đơn giản. Bản làng miền núi, ruộng lúa, nhà sàn, hàng hiên ngó vô rừng, và một cuộc trở về lạ lùng: bộ đội Bôn, đã báo tử, đã liệt sĩ, đột ngột trở về đoàn tụ với người vợ chính thức, có hôn thú, là Miên. Gầy trơ xương. hôi như cú, không một xu, hết xí oách, anh bộ đội, cái chết hiện về chưng hửng khi biết Miên, hoàn toàn ngây thơ, hoàn toàn vô tội, đã tái giá với Hoan, một thương gia thành thị, giầu có, và hấp dẫn hơn anh. Ai có lý? Ai điều động, ra lệnh? Danh dự hay tình yêu, tổ quốc hay tình cảm? Trung thành với ai để hy sinh chính cả mình? Nhà nữ tiểu thuyết gia giơ cây viết thần ra hiệu, và thế là tuồng ảo hóa bèn bầy ra đấy: những mặt nạ sặc sỡ của một xứ sở Việt Nam xa xưa, niềm vui, nỗi đau, danh dự bị nhạo báng, tình mẫu tử thắng thế, những tên ma mãnh của thành phố hay những nạn nhân nhỏ thó của Lịch Sử. Như nữ kịch tác gia, bà tưới lên xen hài bằng nước mắt của một bi kịch bình dân, bà cho nhà quê đụng độ thành phố, kẻ ăn hối hộ đối mặt người hối lộ. Đang từ hoàn cảnh này độc giả bắt liền qua một hoàn cảnh khác. Chốn Vắng, Terre des oublis, là quyển tiểu thuyết thứ sáu, bản tiếng Pháp, được xuất bản. Cuốn truyện chúi mãi xuống, tới tận miền sâu thẳm đã bị tổn thương, của những kiếp người. Người ta tin rằng, tác giả của nó, Dương Thu Hương, thụ giáo từ một ngôi trường của những lưỡi lê và những khẩu hiệu, của nhà tù và của sự thiếu thốn do bị chiếm đoạt, cho nên bà quá rành, và thừa bản lĩnh để làm bật ra cái bóng ma ghê rợn khủng khiếp đó. Bà còn cho độc giả, cả một phương thuốc dân gian, làm thế nào để trải qua đêm ái ân tới bờ tới bến mà không bị quất sụm: Chỉ cần một ly cà phê đen và vài hột muối. Ngay cả một chuyện như thế, độc giả vẫn sẵn sàng bỏ qua. Bản tiếng Pháp: La louve solitaire de Hanoï -------------------- ![]() Trên đời có ba thứ nguy hiểm nhất: -Rượu ngon làm ta mất trí. -Tiền nhiều làm ta bất chính. -Nhiều người iêu làm ta đau khổ nhiều nhất. |
|
|
|
Sep 3 2007, 12:43 PM
Post
#2
|
|
![]() Lớp 5 ![]() ![]() ![]() ![]() ![]() Group: Sinh Viên Posts: 578 Joined: 2-June 06 Member No.: 7,542 |
Tiểu Luận
Dương Thu Hương Ha noi - Viet nam Trước hết, tôi xin được nói vài lời phi lộ: Tôi không chỉ là người chuyên đấu tranh cho dân chủ, tôi cũng còn là người viết văn, vì lẽ đó, chắc chắn trong vài năm tới, nếu trời phật còn cho sống tôi sẽ không có cơ hội gặp gỡ mọi người, trả lời các cuộc phỏng vấn hoặc tham gia bàn luận về những vấn đề liên quan đến đất nước. Do đó, nhân dịp này tôi xin được trình bày một cách đầy đủ những ý nghĩ của riêng tôi về cuộc đấu tranh dân chủ ở V.N. Nếu bảo rằng: "Nói một lần cho tất cả" là quá vội vã và hàm hồ thì chí ít bài phát biểu này cũng sẽ bao hàm tất thảy những ý nghĩ của tôi trong một giai đoạn dài, và tôi sẽ không trở lại vấn đề này lần nữa. Thứ hai, tuy đã từ lâu xác định hy sinh cuộc đời mình cho lợi ích của nền dân chủ, nhưng tôi không nuôi mộng cầm quyền không bao giờ hình dung mình trong vai trò thủ lĩnh của bất cứ một đảng phái nào, dù là Tự do, Dân chủ, Cánh tả hay Cánh hữu nếu như chúng có thể xuất hiện một ngày nào đó trong tương lai, xa xôi hay gần gũi. Tôi tự biết một cách đích xác rằng tôi không có phẩm chất của chính khách hành nghề chính trị, thứ nghề đòi hỏi trước hết khả năng tập hợp và chỉ dụ một đám đông. Bởi lẽ, về bản chất, tôi là người một mình, tôi không thích lãnh đạo ai và cũng không để ai lãnh đạo. Nói cho minh bạch để một mặt, những ai ước vọng cầm quyền, dù ở trong nước hay hải ngoại có thể yên tâm tuyệt đối, và mặt khác tất cả những gì tôi sẽ nói đều xuất phát trên cái nhìn trước hết của một nhà văn và sau đó, của một người tranh đấu cho lợi quyền của dân chúng, không phải nhãn quan một chính khách. Thứ ba, tôi phải xin lỗi trước tất cả những ai vốn coi lòng tự hào dân tộc như một di sản bất biến và đinh ninh đó là một kho tàng vô hạn bởi những điều tôi sắp nói chắc chắn không phải mía lùi hay mật ngọt và nó có nguy cơ làm thương tổn lòng tự ái, vốn là một thứ tình cảm vô cùng mãnh liệt không chỉ riêng có ở người VN mà có tính phổ biến của nhân loại. Giờ, xin đề cập tới vấn đề chính: Việc bắt bớ hàng loạt những người đấu tranh cho dân chủ kể từ năm 2002 tới nay và vụ xử án ông Phạm Quế Dương sắp tới. Theo lá thư thứ hai của bà Đỗ Thị Cư vợ ông Phạm Quế Dương gửi nhà cầm quyền, tôi được biết ông bị kết tội làm gián điệp (mười ba năm trước họ cũng đã từng kết tội tôi là gián điệp, bán bí mật quốc gia cho ngoại bang) ông bị đe doạ lãnh án từ 12, 20 năm tù đến chung thân hoặc tử hình theo điều luật 80 - Bộ luật hình sự. Ở đây, tôi không cần nhấn mạnh vào tính chất phi lý, phi pháp, phi nhân biểu hiện ở bản luận tội vừa tàn bạo vừa đê tiện của người đại diện cho chính quyền và Ban văn hoá tư tưởng VN, cái thứ tổ chức đặc trưng cho các Nhà nước xây dựng theo mô hình phát xít, tôi chỉ bàn tới tính Ngạo ngược hiển hiện ra trong từng lời từng chữ của họ. Vu khống, sỉ nhục, tàn diệt vốn là hành xử tự nhiên của kẻ cầm quyền ở những xứ sở chưa phát triển, dân trí thấp kém. Tuy thế, cách hành xử này dù muốn hay không cũng phải tìm một hình thức thoả hiệp với thời đại, hoặc nói nôm na nó phải uốn mình theo cuộc thế, chí ít là để nguỵ trang để tránh các phản ứng bất lợi và tìm hiệu quả. Bản luận tội ông Phạm Quế Dương không cần xử dụng chút nào nguyên tắc đó, nó bộc lộ tính tàn ác, phi lý một cách trắng trợn và Ngạo ngược. Sự ngạo ngược này chỉ có thể hình thành trên hai yếu tố tâm lý sau: - Thứ nhất, nhà cầm quyền có lòng tin tuyệt đối ở sức mạnh của họ. Sức mạnh đó tỳ trên Nòng súng và sự Sợ hãi thâm căn cố đế đã trở thành một phần bản thể của dân chúng (Une peur viscérale- không có từ chính xác để dịch). - Thứ hai, họ cũng tin tuyệt đối vào sự bất khả và sự mong manh của phong trào dân chủ nói chung và những người đấu tranh cho dân chủ nói riêng. Bất hạnh thay, lòng tin của họ lại có cơ sở thực tiễn. Đó chính là điều cần phải nghĩ. Điều này đã ám ảnh đã theo đuổi tôi ít cũng gần hai thập kỷ, kể từ 1985 là thời điểm tôi dấn thân vào cuộc đấu tranh này. Ai cũng biết rằng tất thảy những nhà nước thuộc phe xã hội của chủ nghĩa đều xây dựng trên sức mạnh đàn áp, theo công thức của Lénine. Cái nôi của chính thể bao giờ cũng là một cuộc chiến tranh rộng lớn, khá dài lâu để sự xáo trộn đủ thời gian gây ra một hiệu ứng hai chiều: Sự tôn vinh bạo lực và tâm lý tòng phục trong dân chúng. Chính thể tiêu biểu cho hệ thống này đương nhiên là Liên Bang Xô Viết. Chính thể đó đã sụp đổ hơn một thập kỷ nay. Muốn hay không, dù cho rằng các đảng phái đối lập ở Nga chỉ là một đám vỏ ốc, dân chúng không có thói quen sinh hoạt chính trị và Putin chỉ là một Pie Đại đế tái sinh … nhân loại vẫn buộc phải công nhận rằng ở Nga xã hội đã chuyển biến, đã có nền móng của một xã hội dân chủ dẫu rằng nền móng đó còn mong manh và giai đoạn tập sự xem ra còn khá dài lâu. Chỉ còn lại ba quốc gia bé nhỏ, xem ra là di tích vững chắc nhất của một hệ thống đã sụp đổ: Cuba, Bắc Triều Tiên, Việt Nam. Vì không có ước vọng trở thành nhà phân tích chính trị xuyên quốc gia nên tôi xin tập trung vào vấn đề hiện đang làm nhức nhối tất thảy những ai quan tâm đến tiền đồ của xứ sở: Nhà cầm quyền VN lấy ở đâu sức mạnh và niềm tự tin ấy ? Nguồn suối nào đã và đang nuôi dưỡng một chính quyền thối rữa một cách công khai, vô năng một cách hiển nhiên trên nhiều lĩnh vực và tàn bạo một cách ngạo ngược trong việc đàn áp dân chúng ? Sự tồn tại của khối mâu thuẫn này là một phương trình không dễ dàng tìm ẩn số. Tuy nhiên, công việc của chúng ta buộc phải tìm ra các ẩn số đó bằng mọi giá. Để có cơ sở tham chiếu tôi xin mượn lời một nhà báo Pháp, Claude Allègre trong bài Cực hữu, Cực tả (Extrême droite, Extrême gauche - L’Express/page 40/ 29-8-2002) sau cơn khủng hoảng của nền dân chủ Pháp, sự đột phát của làn sóng Cực hữu mà đại biểu là Le Pen. Trong bài viết này ông Claude xác nhận: “… Người ta không thể cho qua một cách im lặng những Khmer đỏ, những trại tập trung cải tạo Cambodgiens, những cuộc tàn sát hàng nghìn trẻ em hay người lớn. Và Ceausescu ở Roumanie ? … Việt Nam không được biết đến như là một chế độ nhân đạo hơn. Dưới cái cớ là dân tộc can đảm này đã chiến thắng các siêu cường quốc (ce peuple courageux a bouté hors les murs les super – puissances) người ta đi đến chỗ quên đi một nền độc tài đẫm máu đang thi thố trên xứ sở đó cũng như ở tất thảy các quốc gia “dân chủ nhân dân khác”. Đương nhiên cụm từ "Dân chủ nhân dân" được đặt trong ngoặc kép. Ông Claude Allègre đã nói đúng một phần của sự thật: Dưới cái cớ là dân tộc can đảm này đã chiến thắng các siêu cường quốc, người ta đi đến chỗ quên đi một nền độc tài đẫm máu đang thực thi ở đó … Một phần khác của sự thật mà ông Claude Allègre chưa nhắc đến, đó là chủ nghĩa bài Mỹ là chất xi- măng gắn kết rất nhiều quốc gia. Chính thứ Antiaméricanisme này là lý do ngầm ẩn để người ta giàu lòng khoan dung với Việt Nam, một Việt Nam trên danh nghĩa chung mà không biết rằng Việt Nam là một thực thể mơ hồ trong đó nhào trộn máu của những kẻ bị đàn áp lẫn vàng của kẻ thống trị, ân sủng của kẻ cầm quyền lẫn nỗi thống khổ của dân đen, sự ngạo mạn tàn ác của kẻ mạnh lẫn sự khiếp nhược hèn mọn của kẻ yếu … và tất thảy chìm đắm trong một thứ vinh quang lịch sử vừa mờ mịt khói sương huyền thoại vừa óng ánh trang kim của sân khấu tuồng chèo. Danh từ Việt Nam giờ đây được dùng như một thứ biểu tượng nhằm hạ nhục Mỹ và thoả mãn phức cảm Antiaméricanisme. Bất cứ ở xó xỉnh nào trên hành tinh này xảy ra xung đột với Mỹ, người ta nêu tên Việt Nam như lời cảnh cáo: - … Hãy coi chừng một Việt Nam mới … - … Các nhà quan sát cho rằng rất có thể trong một tương lai không xa lịch sử sẽ lặp lại lần nữa điều mà người ta thường gọi là Hội chứng Việt Nam … - … Như ở Việt Nam năm xưa, giờ đây lính Mỹ đã bắt đầu chán nản … vân vân và vân vân … Đương nhiên, nhà cầm quyền Việt Nam lợi dụng tối đa điều này. Dưới bàn tay cắt cúp, dàn dựng của các đạo diễn da vàng tóc đen, nhiều đoạn tản đàm trong báo chí phương Tây cũng như các châu lục khác được sử dụng như một thứ chất liệu quý báu để dựng lên bức tượng đài vĩnh cửu, tôn vinh tinh thần quả cảm và sức mạnh bất khả chiến bại của một dân tộc nhỏ bé nhưng anh dũng vô song. Điều này có khiến cho dân chúng hãnh diện không ? … Tôi tin là có, không chỉ người Việt sống trong biên thuỳ mà còn cả một bộ phận người Việt sống nơi hải ngoại. Hơn nữa, không chỉ người trưởng thành mà còn cả đám trẻ thơ. Vào những ngày cuộc chiến tranh liên quân Mỹ – Anh với Irắc bùng nổ, ở những nơi tôi thường lui tới, lũ trẻ bàn tán sôi nổi: - Chúng ta cần phải sang giúp người Irắc, họ không đánh Mỹ thiện chiến như dân ta. - Rồi ta sẽ lập các đội quân tình nguyện, cả thanh niên và thiếu niên sẽ được phiên chế hết. Ở Bát - đa, tổng thống Sadam kêu gọi nhập ngũ cả những đứa tuổi mười hai … Vậy là, thừa nhận hay không, tinh thần lính đánh thuê và óc hiếu chiến đã xâm nhập vào não trạng của thế hệ trẻ, một trạng thái bệnh hoạn chắc chắn chưa từng xẩy ra trong tâm lý dân tộc Việt từ thuở dựng nước tới nay. Cuộc chiến tranh chống Mỹ đã trôi qua hơn một phần tư thế kỷ, xuýt xoát ba thập niên nhưng toàn bộ hoạt động tinh thần của xứ sở vẫn sống trong cuộc chiến tranh ấy. Một cách hoàn toàn chủ ý, nhà nước Việt Nam giáo dục và bắt buộc công dân phải tưởng niệm cuộc chiến tranh này một cách liên tục, không ngưng nghỉ: Các chủ đề chỉ định cho báo chí, các cuộc triển lãm, các trương trình văn hoá, nghệ thuật. Mọi người phải sống với cuộc chiến đã qua như sống với vị hôn thê, phải nghe những bài hát lặp đi lặp lại ba mươi năm liền, từ đài phát thanh quốc gia đến thứ loa ra rả gào thét ở phường khóm, phải xem những vở kịch, những cuốn phim về lịch sử chống Mỹ cứu nước ròng rã ba thập kỷ, phải tham dự những cuộc họp, những cuộc trình diễn mà dù bất cứ chủ đề nào bóng dáng của chiến thắng lẫy lừng năm xưa cũng phải tái hiện cho dù lạc lõng … Một nhà văn cho ra đời cuốn tiểu thuyết mang tên: “Ăn mày dĩ vãng". Vô tình hay hữu ý thì cái nhan đề này khá chính xác với tính cách của chính phủ hiện hành. Nói một cách khác, chính quyền Việt Nam là chính quyền mắc chứng dâm thi. Nó chỉ có thể làm tình với thây ma vì điều đó đem lại sự thoả mãn và cho nó lý do tồn tại. Bản thân nó vô giá trị. Vì thế, không có cách nào khác nó phải dựng thây ma của quá vãng lên, tô son vẽ phấn cho vị thần hộ mệnh. Vâng, đúng như vậy, vị thần hộ mệnh của chế độ này chính là cuộc chiến tranh đã qua được gọi tên là cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước. Dù đã qua ba mươi năm, cuộc chiến tranh này vẫn là bức tường thành che chắn cho những kẻ cầm quyền. Vì sao ?… Vì ba lẽ: - Thứ nhất, cuộc chiến tranh nào cũng đòi hỏi một bộ máy thực thi chiến lược lẫn chiến thuật. Cuộc chiến càng rộng lớn, càng khốc liệt, bộ máy càng đồ sộ, phức hợp và chặt chẽ để đáp ứng các đòi hỏi của nó. Khi chiến tranh kết thúc bộ máy quân sự khổng lồ này sẽ chuyển thành tường luỹ của Nhà nước cầm quyền, và sức mạnh bạo lực của nó sẽ hướng tới một đối tượng mới, không còn là kẻ ngoại xâm mà là những anh em nội tộc nhưng bất tuân phục. - Thứ hai, cuộc chiến tranh chống Mỹ là cuộc chiến khốc liệt nhất trong lịch sử, số người thiệt mạng lên tới ngót một chục triệu, tổn thất lớn lao này không thể nào tránh gây ra những chấn thương tinh thần trong não trạng chung. Sự sợ hãi bạo lực được khắc phục trong chiến tranh do trạng thái thăng hoa của tinh thần yêu nước giờ đây trở lại nguyên trạng hoặc sa sút trở thành sự khiếp nhược trước sức mạnh đàn áp của kẻ cầm quyền. Thêm nữa, tâm lý tự thoả mãn với một sự tồn tại tối thiểu … Cũng còn hơn là chết … làm cùn mòn tất thảy những khát vọng và khả năng tranh đấu nơi dân chúng. - Thứ ba: Bức tượng đài “Chiến thắng vĩnh cửu” được dựng lên đem lại một thứ lợi ích kép cho nhà cầm quyền: Đối với ngoại bang, họ được hưởng thứ đặc ân như tôi vừa phân tích, đối với dân chúng, lòng tự hào dân tộc là món tiền chuộc lớn lao, một thứ Tôn giáo, thuốc phiện của nhân dân, để chuộc lại những khoản tham nhũng liên miên hàng trăm tỷ, những vụ đổ bể tai tiếng như vụ án Năm Cam, sự hiện diện ô nhục của những con người mà tiếng tăm về sự ngu dốt cũng như về phẩm hạnh đã trở thành đề tài tiếu lâm hàng ngày ở cửa miệng dân chúng … Như thế, một thứ vô hình mà chuộc lại được những thứ đếm được, cân đong được, biến chúng thành các Compte ở các ngân hàng ngoại bang quả là đáng giá lắm. Cho nên, việc tô son trát phấn thậm chí nói khoác, nói thêm cho một vinh quang trong quá khứ là món đầu tư béo bở, hiệu quả gấp nhiều lần các vụ đầu tư thông thường trên thương trường. Dân chúng, không phải quá nhu nhược đến mức tự nguyện chìa chân ra cho đỉa hút máu, nếu không những người nông dân Hải Hưng đã chẳng đặt tên mới cho Đảng cộng sản VN là Đảng Cộng đớp, rồi sau đó, đám dân đen đô thị tục tĩu hơn đổi thành Cộng mút … Dân chúng, cũng không quá ngu dốt đến mức không biết rằng một chế độ tham nhũng trên bình diện toàn quốc ắt hắn phải liên kết và sử dụng bọn xã hội đen, Năm Cam ra toà nhưng Sáu Quýt, Bảy Chanh, Tám Bòng, Chín Thanh Yên, Mười Phật Thủ … vẫn còn lại trong lâu đài biệt thự của các ông lớn … Nhưng một thứ triết lý cho mình: Thôi thì, cũng còn hơn là phải chết … Và một thứ triết lý dành cho kẻ cầm quyền: Thôi, dầu sao các ông ấy cũng đã thắng Mỹ … Cặp ý tưởng song trùng này trói chân tay họ lại, bít bùng cái nhìn của họ, làm tan loãng mọi ý chí ở trong họ. Đó là lý do chính giải thích tại sao kẻ cầm quyền lại vững tin đến thế, và phong trào đấu tranh dân chủ ở Việt Nam lại non yếu, cô đơn đến như vậy. Cuộc chiến tranh đã xoá đi sinh mạng của hàng chục triệu người để lại tàn tích không chỉ một mà tới ba thế hệ về phương diện thể chất: Tàn phế, tâm thần, quái thai hoặc thiểu năng do chất độc da cam. Nhưng sự tổn thất tồn tại trên bình diện tinh thần còn trầm trọng hơn nhiều: ở ngoài các trại thương binh, các nhà thương điên, những trẻ khuyết tật, những trung tâm điều trị chiến binh tâm thần … ở ngoài tất thảy những nơi chốn mà nỗi đau thương của con người hiện lên rõ rệt, một thứ chấn thương khác, trùm lợp, lan tràn, chế ngự xứ sở chúng ta: Sự tê liệt của ý chí. Sự tê liệt ý chí của dân chúng, đặc biệt ở tầng lớp tinh hoa là dấu hiệu suy đồi sức sống của một dân tộc và là biểu hiện rõ rệt nhất cho sự cố kết của các lực lượng cản trở tiến bộ trong xã hội. Các lực lượng phản tiến bộ càng mạnh, trạng thái tê liệt càng kéo dài, càng trầm trọng và khả năng phục hồi càng khó khăn. Lý thuyết chỉ cho chúng ta thấy rằng muốn phục hồi ý chí cho một con bệnh suy nhược tâm thần cần phải giải toả những dồn nén tàng trữ trong họ. Cũng không khác biệt quá nhiều giữa một cá thể với một tập hợp cá thể: một đám đông. Sự tê liệt ý chí hiện nay được hình thành từ nhiều yếu tố, nhưng yếu tố căn bản nhất, là mặc cảm Hàm ơn. … Dù sao, Đảng cũng đã dẫn dắt nhân dân qua hai cuộc kháng chiến thần thánh, dưới sự chỉ đạo của Bác Hồ … Đại bộ phận dân chúng Việt Nam cho tới lúc này vẫn nghĩ như thế, do đó họ khoanh tay thở dài trước những hành vi tham tàn, đồi bại, táng tận lương tâm của nhà cầm quyền. Thêm nữa hình ảnh Vị cha già dân tộc, râu tóc bạc phơ vẫn chỉ đạo cuộc “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước” và "Bác vẫn cùng chúng cháu hành quân" là biểu tượng hết sức thơ mộng cho cuộc chiến. Nó quyến rũ hàng chục triệu con người, nó lay động hàng chục triệu con tim, làm thổn thức tâm hồn dân chúng và không ít những người ngoài biên giới. Điều mỉa mai là chính Chủ tịch Hồ Chí Minh lại là người thứ nhất phản bác lại cuộc chiến tranh này trong Đại hội Đảng lần thứ ba. Do ông tuyệt đối thiểu số nên ông đã phải phục tùng tuyệt đại đa số phe chủ chiến dưới sự lãnh đạo của hai ông Lê Duẩn và Lê Đức Thọ. Phần cuối đời, vị Chủ tịch nước đã phải hành động như một con rối dưới những ngón tay giật dây của hai nghệ sỹ họ Lê thay vì chịu bị giam vĩnh viễn trong một nhà nghỉ mát sang trọng nào đó, ở Quảng Đông hoặc Quảng Tây chẳng hạn … Nhưng đây không phải lúc bàn về ông Hồ Chí Minh, tôi chỉ đưa sự kiện này ra như một bằng chứng về tính sân khấu hài hước của cái thường được mệnh danh là lịch sử. Và như thế, yếu tố đầu tiên của cuộc chiến tranh là yếu tố gi. Nói một cách khác nó là một Dữ kiện Sai. Điều thứ hai cần phải bàn đó là: Cuộc chiến tranh Thần Thánh! có Cuộc chiến tranh thần thánh nào là thật Thần Thánh hay không ?… Có, đó là cuộc kháng chiến chống Pháp, đó là ngày hội của một dân tộc sau một trăm năm tối tăm nô lệ tìm lại được bản diện của mình và sẵn sàng chết một trăm lần chết để gìn giữ bản diện ấy. Nó là cuộc chiến tranh thần thánh vì nó biểu hiện ý chí bất khuất và tình yêu Tự do của người Việt. Cuộc đấu tranh đó là cú nhẩy ngoạn mục của Ê- dôp xuống vực thẳm để được Chết như một người tự do. Nhưng ngay cả thời khắc ý chí của mấy chục triệu người sôi sục như lửa cháy, ông Hồ cũng vãn phải tìm mọi biện pháp mềm dẻo hy vọng né tránh hoặc trì hoãn cuộc chiến. Hẳn không ai quên được Hội nghị sơ bộ ngày 6 tháng 3 và một hội nghị Fontainebleau. Cũng khó quên được lời trần tình của Ông trước dân chúng: "Hồ Chí Minhh không bán nước …". Sự thận trọng và kiên trì đó biện minh cho tính chính nghĩa của cuộc chiến tranh: Dân tộc Việt không thích chiến tranh nhưng sẽ làm nó với toàn bộ sức mạnh của mình khi không còn cách nào khác. Thời gian đó, chúng ta không còn cách nào khác bởi sự tham tàn và thủ cựu của Chính phủ De Gaule, mặc dù De Gaule là một chính khách quyết đoán, tài ba, một vị tướng đã cứu vãn danh dự nước Pháp nhưng ông ta đã tỏ ra vô cùng sai lạc trong đối sách với nước Việt Nam non trẻ. Cái giá đã trả là Điện Biên Phủ. Và sau đó, như một hiệu ứng Dominique, Angérie. Khép lại trang này, tôi xin khẳng định một lần nữa, đối với tôi, cuộc chiến tranh chống Pháp thực sự là cuộc chiến tranh Thần Thánh. Giờ, tính đến cuộc chiến tranh chống Mỹ, nó là một cuộc chiến tranh "Thần thánh" (?), được dẫn dắt dưới ánh sáng các thần linh hay ngược lại nó là một cơn binh đao đưa dẫn dưới ánh lửa của mưu ma chước quỷ ?... Toàn bộ sức mạnh của cuộc chiến tranh tựa trên hai từ Cứu Nước. Cứu nước, là tiếng kèn lệnh kêu gọi truyền thống đấu tranh của người Việt. Truyền thống này tồn tại hàng nghìn năm như một yếu tố vĩnh định trong cấu trúc tâm lý. Tống, Nguyên, Minh, Thanh … Thái thú Tô Định, Tướng Thoát Hoan, núi Yên Ngựa, Bạch Đằng Giang … những cái tên lịch sử trước khi ghi trên giấy trắng bằng quốc ngữ đã ghi trên giấy quyến bằng chữ Nôm, chữ Hán và được truyền khẩu rộng rãi trong dân chúng. Một truyền thống như thế lẽ đương nhiên tạo ra những nét hằn trong cách nghĩ, cách ứng xử, cách sống, cấu thành một bộ phận của tính cách lẫn thói quen, một bản năng thứ hai nơi con người. Do đó, thế hệ của tôi đã lên đường: xẻ dọc Trường Sn đi Cứu nước. Bản thân tôi, cũng từ chối một cuộc sống may mắn hơn để tình nguyện vào tuyến lửa. Sẽ không có gì đáng phải phàn nàn nếu đây là một cuộc chiến tranh thực sự nhằm Cứu Nước. Nhưng cùng với tháng năm, tất cả những màn kịch dựng lên đã phải hạ hồi. Những bí ẩn tưởng quyền lực có thể mãi mãi che dấu cũng tới lúc bị phanh phui. Cùng với dữ kiện: Bác Hồ kính yêu buộc phải tuân theo đa số và vì yếu thế, phải sắm vai hề theo ý của hai người đồng chí đã trở thành Cai ngục. Chúng ta có được dữ kiện thứ hai: Cuộc chiến tranh chống Mỹ không phải là cuộc chiến tranh Cứu nước như mọi người ngộ nhận, đó là cuộc đụng độ giữa hai thế lực hiếu chiến: Vào thời gian đó, cuộc chiến tranh lạnh giữa hai hệ thống chính trị trái ngược đã lên đến cao điểm. Bên nào cũng muốn chiếm ưu thế trong cuộc cạnh tranh. Đối thủ của Mỹ không phải nước Việt Nam bé tí mà là nước Trung Hoa khổng lồ man rợ trong sự kiêu ngạo tối tăm của nó. Việt Nam là một dân tộc nhỏ nhưng Antichinois dai dẳng và quyết liệt, vì thế Chính phủ Mỹ đã chọn Việt Nam như một đội quân tiên phong ngăn chặn Làn sóng Đỏ. Về phía miền Bắc, Đảng cộng sản Việt Nam được khích lệ bởi người cầm lái vĩ đại họ Mao: Mỹ là con Hổ giấy, đừng sợ, đánh Mỹ các đồng chí sẽ được lịch sử ghi danh, những chiến sĩ tiền đồn chống đế quốc Mỹ và bè lũ tư bản thối tha, cắm ngọn cờ hồng Mác- Lê nin trên khắp địa cầu … đã huy động toàn dân cầm vũ khí. Tóm lại tiến hành cuộc chiến này chủ động cả hai phía. Dưới sự chiêu dụ của những lý lẽ hào hoa dân tộc Việt bị xé làm đôi, một cách vô thức đã tự nguyện biến thành hai đội quân đánh thuê cho hai hệ thống chính trị đối nghịch, một cách vô thức biến mình thành một thứ tampon giữa hai toa tàu lịch sử, một cách vô thức biến giang san cha ông để lại thành chiếc cối xay thịt khổng lồ, tự lao vào như những đám thiêu thân trong một cuộc binh đao huynh đệ tương tàn chưa từng có trong quá khứ. Thời gian là người tạc tượng khổng lồ. Với thời gian tất thảy mọi o vọng tan nát, mọi giấc mộng ngông cuồng tan thành mây khói, mọi lầm lạc được tháo cởi. Với thời gian, chúng ta hiểu được những sự thật về bản thân cũng như về dân tộc mình. Chúng ta là những kẻ ngu ngơ, dại dột, lầm lạc bởi chúng ta sinh ra trong một dân tộc ngu ngơ, dại khờ lầm lạc vào chính thời đại này. Xưa kia, cha ông ta chưa bao giờ tự đem thân mình làm lính đánh thuê như thế. Tổ tiên ta không bị huyễn hoặc bởi những thứ vinh quang kiểu: "Thành mây sừng sững ngăn sóng đỏ”. “Chiến sĩ tiền đồn chống Mỹ và phe tư bản thối tha, lịch sử sẽ ghi danh các đồng chí …” Như thế, cuộc chiến tranh chống Mỹ, với tôi, là cuộc chiến tranh ngu xuẩn nhất trong lịch sử dân tộc. Nó là sự sung đột giữa hai thế lực hiếu chiến, Mỹ một bên, những người cộng sn Việt Nam một bên, cả hai bên đều phải chịu trách nhiệm trước mười triệu linh hồn đau khổ. Những thế hệ tiếp nối cần phải ghi nhớ cuộc chiến tranh này như một lầm lạc gây nhiều tổn thất nhất trong lịch sử dân tộc Việt kể từ buổi khai sinh. Ra khỏi một cuộc chiến tranh như thế, thân tàn lực kiệt. Bởi một dân tộc cũng như một cá thể, chịu những giới hạn về thể chất cũng như tâm thần. Sự huy động nỗ lực kéo dài trong chiến tranh sẽ để lại di chứng trong thời bình, những chịu đựng quá ngưỡng sau một thời gian thường đẩy chủ thể sang trạng thái đối nghịch. Sự tê liệt ý chí, sự ù lì về tinh thần trong xã hội chúng ta hôm nay là sự trả giá cho một thời gian dằng dặc chịu đựng tổn thất và khổ đau. Thêm nữa, một dân tộc chưa vượt khỏi những bức xúc tối thiểu của cái Đói, cái Rét, Nơi trú thân, dân tộc ấy khó có thể có Khát Vọng Tự do và Dân chủ. Đối với đại đa số dân chúng hiện nay những khái niệm về Quyền sống, quyền Công dân, thể chế về giải pháp dân chủ … vẫn là những khái niệm mơ hồ, một thế giới mới lạ, quyến rũ nhưng còn quá xa xôi. Và, do bản tính bảo tồn sự sống, người ta không thể liều thân chiến đấu với cường quyền chỉ để đạt tới một thế giới hứa hẹn nhưng còn ở ngoài tầm tay. Trước tình hình đó, lẽ đương nhiên những người đấu tranh cho Dân chủ ở đất nước ta phải chấp nhận sự lẻ loi và những hy sinh, và Sự lẻ loi này sẽ còn kéo dài. Điều mà chúng ta có thể làm được hiện nay là phá vỡ bức màn huyền thoại Chống Mỹ Cứu nước, là chỉ rõ tính chất tàn bạo của nhà cầm quyền trong vụ án Xét Lại và vạch rõ bản chất cuộc chiến tranh ngu xuẩn đã qua. Khi lá bùa hộ mệnh của chính thể rơi xuống, nó sẽ không còn dám giữ thái độ tàn bạo và ngạo ngược như hiện nay. ở đâu tình cảm và khát vọng lấn lướt, ở đó chân lý câm lặng và huyền thoại nảy sinh. Một khi đám đông nhận thức được rằng họ đã bị lừa, rằng cuộc chiến tranh thần thánh mà kẻ cầm quyền vẫn rêu rao thực chất chỉ là trò trẻ con bị xui ăn cứt gà sáp, và rằng đó là một cuộc dấn thân mù loà vô tích sự mà bài học đắng cay sẽ lưu truyền hậu thế … Khi đó, chính quyền Việt Nam sẽ được lãnh đủ … Nhưng giờ đây, trước số phận những người cùng đứng trong cuộc đấu tranh, chúng ta không có cách nào hơn là kêu gọi nhân loại tiến bộ ủng hộ. Chúng ta kêu gọi nhân dân Mỹ, một dân tộc có lương tri chính trực và cao cả đã góp phần ngăn chặn cuộc vận hành của cỗ máy xay thịt khổng lồ năm xưa. Tôi hy vọng rằng một nhân dân như thế sẽ giúp đỡ lực lượng dân chủ mong manh đang bị chà sát ở Việt Nam. Một nhân dân như thế sẽ cảm thông được với đau khổ và mất mát của dân tộc chúng ta cho dù giữa con người với con người luôn luôn tồn tại những vực thẳm cách biệt do lịch sử và văn hoá. Chính quyền Việt Nam có thể ngạo mạn với dư luận trong nước, có thể chà đạp tàn bạo những người có ý kiến trái ngược với họ, có thể đổi trắng thay đen, để mà vu cáo vô liêm sỉ một ông già hiền lành cả tin và có phần ngây thơ để mà vào những lời lẽ: Chống tham nhũng của họ, để mà viết đơn xin Lập Hội chống tham nhũng như ông Phạm Quế Dương … Họ có thể làm mọi thứ trong lãnh địa này, trước một đám đông thiếu ý chí, thiếu hiểu biết và khiếp nhược, nhưng chắc chắn họ không thể ngạo mạn với dư luận tiến bộ trên thế giới, họ không thể dối láo hoặc phỉ báng những đối tác có ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi và sự tồn tại của họ. Đến Asile cũng còn bị đánh quỵ chỉ vì có gót chân, huống hồ nhà cầm quyền Việt Nam ?… Một chính thể chỉ tồn tại trên hai bệ đỡ: Sự thiếu hiểu biết và sự khiếp nhược của dân chúng. Tôi cũng xin trở lại với một hiện thực mà ông Claude Allègre đã xác nhận: Dưới cái cớ là dân tộc can đảm này đã chiến thắng các siêu cường quốc, người ta đi đến chỗ quên đi một nền độc tài đẫm máu đang thực thi ở đó. Vâng, sự lãng quên này đã kéo dài ba thập kỷ. Núp trong bóng của lãng quên của những tên tiểu bạo chúa hoành hành trên cõi đất bùn lầy. Máu những người vô tội khô kiệt trong các trại giam. Tên các chiến sĩ đấu tranh cho dân chủ được nêu lên như các ví dụ để khủng bố dân chúng, một dân chúng vốn đã kiệt sức vì nghèo đói và khiếp nhược … Vì lẽ đó, tôi xin kêu gọi những ai có lương tri hãy bước ra khỏi lãng quên, hãy giúp cho những Phạm Quế Dương, Nguyễn Khắc Toàn, Trần Khuê, Vũ Bình, Phạm Hồng Sơn, Nguyễn Đan Quế, Lê Chí Quang, Giáo sư Nguyễn Đình Huy thoát khỏi sự chà đạp của kẻ cầm quyền. Đó là cách tốt nhất để dân tộc Việt Nam có cơ hội nhích thêm vài bước trên con đường đi tới nền dân chủ. Dương Thu Hương -------------------- ![]() Trên đời có ba thứ nguy hiểm nhất: -Rượu ngon làm ta mất trí. -Tiền nhiều làm ta bất chính. -Nhiều người iêu làm ta đau khổ nhiều nhất. |
|
|
|
Sep 3 2007, 07:25 PM
Post
#3
|
|
![]() Tiến Sĩ Group: Giáo Sư Posts: 19,843 Joined: 7-September 03 Member No.: 83 |
Cám Ơn mụi
-------------------- |
|
|
|
Sep 3 2007, 10:19 PM
Post
#4
|
|
|
Quỳnh Hoa Một Đóa Vô Thường Group: Tổng Giám Thị Posts: 4,955 Joined: 24-April 05 Member No.: 3,114 |
Cảm ơn SL
-------------------- ![]() |
|
|
|
Sep 4 2007, 05:23 PM
Post
#5
|
|
![]() Lớp 5 ![]() ![]() ![]() ![]() ![]() Group: Sinh Viên Posts: 578 Joined: 2-June 06 Member No.: 7,542 |
Dương Thu Hương
Đọc ở liên hoan văn học do PEN tổ chức, New York Tiểu Sử Tác Giả
duongthuhuong03_02.jpg ( 9.14K )
Number of downloads: 4Lần đầu tiên nhà văn Dương Thu Hương đã đến Mỹ và hiện đang có mặt ở New York, tham dự một liên hoan văn học do Hội Văn bút Quốc tế (PEN) tổ chức. Hôm thứ Tư, 26-4, bà Dương Thu Hương có bài tham luận đọc tại liên hoan "Faith & Reason: Writers Speak." Đi cùng bà là dịch giả Nina McPherson, người dịch tác phẩm mới nhất của Dương Thu Hương sang tiếng Anh, Chốn vắng (No Man's Land, dịch chung với Phan Huy Đường, 2005) Chủ đề của liên hoan xoay quanh lý trí và đức tin, và vai trò của văn học trong mối quan hệ này. Tham dự liên hoan này còn có nhiều nhà văn nổi tiếng quốc tế như Chinua Achebe, Martin Amis, Nadine Gordimer, Toni Morrison, Salman Rushdie và Zadie Smith. Theo lịch, vào Chủ nhật, tác giả sẽ có buổi nói chuyện, với người dẫn chương trình là nhà văn Mỹ Robert Stone, tại Thư viện New York. Được sự cho phép của tác giả, chúng tôi xin đăng lại toàn văn bài tham luận vừa đọc hôm thứ Tư, có tựa đề ----------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------- "Sự Cứu Rỗi Cuối Cùng." Nhu cầu được cứu rỗi có lẽ là nhu cầu sớm nhất của nhân loại. Nó xuất hiện cùng lúc với con người đầu tiên đi bằng hai chân, lưng thẳng đứng, quyết định rời bỏ cánh rừng để tiến về chân trời phía trước. Chân trời hoang vắng kia chính là định mệnh của loài người, vừa cám dỗ vừa hàm chứa hiểm nguy, đem lại cùng một lần hy vọng và lo âu, say đắm và khắc khoải. Chính bởi con đường dẫn đến tương lai bao giờ cũng được cắm mốc bởi những bất an, nên con người cần có sự cứu rỗi. Nhu cầu về sự cứu rỗi là một hằng số, kể từ con người đầu tiên, đầu tóc đầy chấy rận, che thân bằng lá rừng cho đến nhân loại ngày hôm nay, một năm tiêu thụ hàng chục triệu lọ thuốc nhuộm tóc và hàng chục vạn tấn quần jean. Trên con đường dài đặc của lịch sử, tấm áo giáp tinh thần đầu tiên che chắn cho tâm hồn mong manh của con người chính là niềm tin. Một quyền năng tối cao phải ra đời để mang đến cho họ sức mạnh đặng có thể vượt qua mọi thử thách, đứng vững trước những chân trời giông bão, trước những ngọn sóng thần, những hỏa diệm sơn, những bệnh dịch ma quái và những cuộc cạnh tranh sinh tồn khốc liệt. Nhưng vì đã có tháp Baben để con người chịu lời nguyền chia rẽ về ngôn ngữ nên phải có một thứ Baben khác để con người chịu lời nguyền thứ hai: Sự chia rẽ về niềm tin. Đấng Omnipussant xuất hiện dưới những gương mặt khác nhau, mặc những thứ trang phục khác nhau, đòi những món ăn khác nhau trong ngày lễ và sau rốt, ra những chỉ định khác nhau cho con chiên của họ. Vì những khác biệt này, sự cứu rỗi của nhân loại đã trở thành duyên cớ cho biết bao cuộc chiến tranh kinh khủng, tàn độc trong lịch sử. Vì cớ gì Chúa của người Do Thái khác Chúa của người Thiên Chúa giáo, từ những dữ kiện nào, được ghi nhận vào năm tháng nào, và do ai chịu trách nhiệm về tính chân thật?...Dường như không có lời giải đáp. Vậy mà trong gần hai mươi thế kỉ, những cuộc tàn sát người Do Thái diễn ra không ngưng nghỉ cho đến tận ngày Giáo Hoàng Paul II chính thức nói lời đề nghị tha thứ trước toàn thể dân cư trên hành tinh. Thêm nữa, dưới chỉ định nào của Jesus mà suốt mấy trăm năm những người Thiên Chúa giáo dồn những người theo đạo tin Lành lên các vùng núi trong một cuộc chiến tranh tàn khốc cho đến nỗi những giáo dân Tin Lành chỉ được quyền làm bánh mì một lần trong năm, chỉ được ăn bánh mới một ngày độc nhất trong 365 ngày. Nhiều thế kỉ đã trôi qua, nhưng ngày hội bánh mới vẫn còn và những ngôi nhà của người Tin Lành trên các vùng núi nước Pháp vẫn nguyên vẹn với những bức tường dày hơn cả tường của các pháo đài xưa cũ. Giờ đây, nếu nhìn lại quá khứ, liệu có lý thuyết nào xứng đáng để biện minh cho những tầng xác chết của giáo dân vùi dưới lòng đất, những con người cùng đeo thánh giá, cùng múc những nguồn cảm xúc tinh thần trong Kinh Phúc Âm và cùng quỳ gối trước một ông thánh bị đóng đinh? Chỉ có thể lý giải: Mọi niềm tin đều có khả năng điên rồ và chúng đã dẫn tới sự điên rồ. Có lẽ vì mệt mỏi với những cuộc chiến tranh tôn giáo, con người tìm nguồn cứu rỗi trong lý trí trong sự khôn ngoan, trong các loại biện chứng pháp, và sức mạnh thần kỳ của nền kĩ trị. Vào thế kỷ 18 và 19, đã có lúc con người của chủ nghĩa duy lý tin rằng họ là những Pha-ra-on cuối cùng của nhân loại và từ nay về sau, mọi chân trời đều khép kín, hạnh phúc đã vĩnh định trong các sơ đồ vẽ sẵn. Lý trí khi bị dẫn dắt bởi vị ngã cũng dẫn con người tới cùng một vực sâu như đức tin, vì nó là thành phẩm của con người. Dương Thu Hương Từ năm 1968 cho tới gần đây, nhiều giáo sư triết học Pháp đã hớn hở tìm những vấn đề trong tương lai còn khiến dân chúng quan tâm. Nói cách khác, họ đặt từ cuối cùng cho nhân loại: Người thì tin rằng từ đó là Tiện Nghi, người gọi từ tối hậu là Sex…Họ tin chắc rằng sau cuộc cách mạng tình dục, nước Pháp sẽ không còn con bệnh tâm thần, và mọi cuộc cởi trói sẽ biến xã hội Pháp thành cõi thiên đường nơi hạ giới… Nhưng ngày hôm nay, người ta có thể gặp những người mất thăng bằng tinh thần, những con bệnh tâm thần thực thụ ngay trên đường phố Paris, ấy là chưa kể đến những khu vực bidon-ville ở ngoại ô. Như vậy là sự thông minh cũng có thể nhầm lẫn, cũng có thể hàm hồ. Những hy vọng thái quá ở sức mạnh của lý trí cũng dẫn đến một sự điên rồ khác. Sự điên rồ của nền kĩ trị, sức tàn phá không thể so sánh của nó trong việc hủy hoại môi sinh và sỉ nhục con người. Những vấn đề ấy không còn là mới mẻ. Vậy chúng ta sẽ sống ra sao đây giữa hai làn đạn chéo? Sự điên rồ của niềm tin và Sức mạnh phá hủy của sự duy lý?...Chúng ta sẽ sống ra sao đây giữa các tầng mây nhiễm phóng xa và tiếng gào thét của những phần tử cực đoan đạo Hồi? Nhà văn cần phải thức tỉnh lương tâm con người. Bởi lương tâm thường mệt mỏi và luôn thiu thiu ngủ. Dương Thu Hương Liệu chúng ta có thể lấp đầy vực thẳm phân ly giữa niềm tin và lý trí? Câu hỏi này có vẻ như ngớ ngẩn bởi dù đức tin hay lý trí, chúng cũng đều xuất phát từ con người, cấu thành một phần bản thể Người. Đức tin khi bị dẫn dắt bởi sự vị ngã sẽ dẫn nhân loại tới sự suy đồi, độc ác. Bởi lúc đó, dù là đấng Tối cao của người Do Thái, chúa Jesus, hay thánh Allah thì họ cũng chỉ là những cái cớ sang trọng để biện minh cho sự phóng chiếu bản năng gốc của con người. Nhân loại cần những ông thánh để hợp lý hóa sự tham tàn của họ, nhu cầu thù ghét tha nhân mà họ được nuôi dưỡng từ thuở hồng hoang khi phải tranh cướp con mồi. Bản năng xâm kích song sinh với bản năng tình dục, một kẻ dẫn đường không kém phần uy lực trong suốt cuộc tồn sinh. Lý trí khi bị dẫn dắt bởi vị ngã cũng dẫn con người tới cùng một vực sâu như đức tin, vì nó là thành phẩm của con người, do con người sáng chế, nó không thể tránh khỏi vòng quay ma quỷ của dục vọng. Dục vọng được biểu tượng như một chiếc túi không có đáy. Với số đông, ý thức được sự vô bờ bến của dục vọng dường như quá khó khăn. Nhưng có lẽ nhiệm vụ của những người cầm bút là ở nơi khó khăn này. Họ cần phải thức tỉnh lương tâm con người. Bởi lương tâm thường mệt mỏi và luôn thiu thiu ngủ. Họ cần kêu gọi lòng từ ái, bởi trước những bản năng sâu xa nhất tồn tại vĩnh cửu nơi con người, lòng từ ái, sự hy sinh quả là điều rất đỗi mong manh. Nếu như cả đức tin lẫn lý trí đã chứng minh khả năng tàn phá, hủy diệt với tất thảy những chiều kích của sự điên rồ, thì chỉ còn lại phẩm chất duy nhất có thể cứu rỗi chúng sinh, ấy là lòng tốt. Một mai đây, nếu hành tinh này còn có thể tồn tại được, chắc chắn là nhờ ơn phước của những con người từ ái, cao thượng, những người có Trái tim vàng, chứ không thể là các lãnh tụ tôn giáo hoặc các kĩ trị gia. Để kết thúc bài viết này, tôi xin được mượn lời Nguyễn Du, nhà thơ lớn của dân tộc Việt Nam: Ngẫm hay muôn sự tại trời, Trời kia đã bắt làm người có thân. Bắt phong trần phải phong trần, Cho thanh cao mới được phần thanh cao. Có đâu thiên vị người nào, Chữ tài chữ mệnh dồi dào cả hai, Có tài mà cậy chi tài, Chữ tài liền với chữ tai một vần. Đã mang lấy nghiệp vào thân, Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa. Thiện căn ở tại lòng ta, Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài. Lời quê chắp nhặt dông dài, Mua vui cũng được một vài trống canh. Pen -------------------- ![]() Trên đời có ba thứ nguy hiểm nhất: -Rượu ngon làm ta mất trí. -Tiền nhiều làm ta bất chính. -Nhiều người iêu làm ta đau khổ nhiều nhất. |
|
|
|
Sep 4 2007, 08:19 PM
Post
#6
|
|
![]() Tiến Sĩ Group: Giáo Sư Posts: 19,843 Joined: 7-September 03 Member No.: 83 |
Cám ơn mụi
-------------------- |
|
|
|
Sep 6 2007, 08:01 PM
Post
#7
|
|
![]() Lớp 5 ![]() ![]() ![]() ![]() ![]() Group: Sinh Viên Posts: 578 Joined: 2-June 06 Member No.: 7,542 |
Tự Do
Ảo Khoảng Sinh Tồn Của Ngòi Bút Tự do là ngọn lửa đầu tiên thổi bùng những đám cháy cách mạng. Cũng là cơn hồng thủy cuối cùng dìm tắt những đám cháy ấy. Trong tất thảy những khát vọng của nhân loại, không khát vọng nào tập hợp được một đám đông vĩ đại như khát vọng tự do. Từ Spartacus tới Ghandi, từ những hình thức đối lập với những chiều kích đa dạng nhất của cuộc đấu tranh cho quyền sống con người đều vang vọng bài ca tự do. Trong vang vọng ấy người ta thấy bụi cát mịt mù cuốn theo con đường dài dặc của lịch sử, thấy diện mạo một nhân loại nhọc nhằn đau khổ lo âu sợ hãi khắc khoải phẫn nộ tha thiết điên cuồng tàn ác và sau rốt mệt mỏi u sầu vào những hoàng hôn trống vắng. Không khát vọng nào phải trả giá đau đớn hơn tự do. Không thách đố nào khắc nghiệt hơn tự do. Người ta vừa thèm khát vừa khiếp sợ nó. Phải chăng tôi đã lặp lại ở đây những ý tưởng cũ mèm ?... Chắc hẳn với phương tây, tự do như một mệnh đề sẵn có, như cây cột đèn, như bảng hiệu ở góc phố, không ai còn chú ý tới. Tôi nói đây lời mê sảng của cõi bùn lầy. Nơi tự do còn là giấc mơ chính ngọ. Ám ảnh. Không buông tha. Xin hãy cho tôi lặp lại tiếng gọi của tự do âm vang trong những tâm hồn đói khát. Với chúng tôi, tự do như kiếp nhân sinh có lịch sử riêng. Nó không hiện diện thường trực cùng nhân loại như kẻ đồng hành. Hạt giống tự do gieo rắc khắp nơi, nhưng không đồng đều và đồng nhất. Ở nơi này, nó mọc thành rừng rậm, nơi kia là những bụi gai cằn lụi hay đám cỏ leo. Với dân tộc này tự do cuồn cuộn chảy trong huyết mạch. Với dân tộc khác nó chỉ là cơn mưa thoáng qua trong khung trời tù đọng. Phải chăng lòng khát khao tự do cũng là một tố chất quan trọng cấu tạo nên các nền văn hóa và các bản sắc dân tộc ?... Cho dù chưa hẳn như thế, người ta vẫn tìm trong các trang sử bóng dáng ngọn cờ tự do như một tiêu chí không thể lảng tránh để định vị sự hình thành phẩm chất người và tính cách quốc gia. Trong bất cứ xã hội nào, loại người cần tới tự do trước tiên là những người làm văn chương nghệ thuật. Không phải vô cớ người ta định nghĩa văn chương nghệ thuật là con đẻ của ba bà đỡ : Tự do - Xa xỉ - Nhàn rỗi. Điều này là sự thật hiển nhiên ở các xứ văn minh. Nhưng trên địa cầu chỉ một phần ba đất đai được mặt trời văn minh chiếu sáng. Phần còn lại là những mảnh đất chìm trong bóng tối hoặc ở khoảng mập mờ. Chúng tôi, những cư dân của miền đất vắng mặt trời tự do, chúng tôi sẽ làm gì với ngòi bút của mình ?... Chúng tôi bắt văn chương biến hình như con kỳ nhông hay luồn lách qua kẽ đá sống lắt lay như loài rêu núi ?... Hoặc chúng tôi chấp nhận tác phẩm của mình hiện diện như những đứa bé sứt môi sứt mũi hoặc khuyết hãm chân tay ? Có lẽ... Và có lẽ... Sự chấp nhận một bản diện méo mó què cụt là phương thức an nhiên, thường xuyên của các văn nhân sống dưới chế độ độc tài. Họ phải tự nguyện thổi tắt đi ngọn lửa tự do cháy trong tâm hồn chăng ?... Vâng, phải thế... Nhưng Tự do lại là bản tính tiên thiên của văn chương nghệ thuật. Thổi tắt đi ngọn lửa Tự do là tắt đi chính phần cốt lõi của văn học và xóa đi thiên chức nhà văn. Như vậy tốt hơn cả là kiếm lấy một chiếc ghế trong hàng ngũ quan lại hoặc viên chức và mưu sinh một cách an bình. Cũng không thể... Bởi văn chương đôi khi như bùa ngải, như quỷ ám như món nợ tiền định, như tình duyên tiền kiếp không thể chạy trốn, không thể cởi bỏ. Nhà văn không thể từ giả giấc mơ sáng tạo để sống cuộc sống bình thường. Và như thế, họ giống kẻ tội đồ thời trung cổ, bị giằng xé giữa hai cỗ xe ngựa, một bên là nỗi sợ quyền lực và sự trói buộc của mưu sinh, bên kia là lòng đam mê văn chương nghệ thuật. Trong cảnh huống đó, tự do tàng trữ như mỏ than, dưới đáy biển bùn. Lúc này và lúc khác, nơi nọ và nơi kia, nó vụt lên những đốm lửa rồi vụt tắt. Trong khí quyển sặc mùi sình lầy và dưới khung trời u ám, những đốm lửa vụt loé lên trong vài ba giây rồi lụi tắt. Vừa kích thích sự ham muốn vừa khiến con người thêm khiếp sợ. Sự khiếp sợ và lòng khao khát tự do thầm lén là hai con sói đói thường xuyên cắn xé trái tim các văn nhân. Mặc cảm tự tôn, đôi khi vĩ cuồng tự đại trong những giấc mơ lộng lẫy huy hoàng nhưng vụng lén, về văn chương cũng như về chính bản thân, vật lộn và hòa quyện cùng mặc cảm tự ti về thân phận hèn mọn trong cuộc đời thực là thứ cường toan ngày ngày gặm nhấm tâm hồn họ. Trong ánh mắt họ cùng một lúc thấy những mưu toan và khiếp nhược, phẫn nộ và khuất phục, những giọt lệ nhục nhã trộn với bóng mây giông. Cuộc sống chảy trôi và con người mòn mỏi ngày qua ngày, tháng qua tháng, năm qua năm trong cuộc vật lộn nội tâm bất phân thắng bại. Với não trạng đó, văn chương chỉ có thể đẻ ra những kiệt tác của lối nói vòng vo, ám dụ. Một phong cách hết sức mẫn cảm nhưng cũng để rơi vào phản cảm vì khó tránh sự lạm dụng thủ pháp. Những điển tích, trích dẫn, những ẩn dụ, lối dùng hình dung từ bóng gió lập lờ, phép hoán chuyển ngôn từ... Tất cả, không nhằm làm văn phong thêm súc tích hấp dẫn mà chủ yếu để che đậy các thâm ý và lưỡi kéo kiểm duyệt. Nhà văn phải tự kiểm duyệt mình trong khi viết. Thay vì tính toán kết cấu, diễn tiến của các nhân vật, liều lượng các uyển ngữ trong câu văn... anh ta phải sắp đặt sẵn những lời biện hộ trước các cấp thẩm quyền một khi tác phẩm bị tố giác. Những biện hộ ấy nhằm xóa đi các thâm ý, các tư tưởng cốt lõi mà anh ta muốn đem lại cho độc giả. Như thế dù muốn hay không, nhà văn cũng buộc bị trở thành kẻ ngụy biện chuyên nghiệp, kẻ dối trá thường trực. Sự dối trá là yếu lĩnh của con người sống dưới các chế độ độc tài, điều đó tự nhiên như nước trong khe ắt phải đổ xuống dòng suối. Có một số người dù cố gắng tới đâu cũng không thích ứng được với môi trường. Không may mắn, tôi nằm trong số đó. Không thể và không biết dối trá, ấy là khiếm khuyết lớn nhất của bản thân tôi khi đã sinh ra trên mảnh đất sình lầy. Một mảnh đất cỏn con nhiều binh đao và bão gió. Những người sống quanh tôi vừa quen vừa lạ, dầu sống với đồng bào của mình, tôi vẫn không hiểu vì sao ở nơi họ cùng một lúc người anh hùng và kẻ tôi mọn cùng song hành tồn tại. Cũng nhiều năm tôi không hiểu các bạn đồng nghiệp của mình. Và sau rốt, khi đã hiểu, tôi rời xa họ... Tôi là kẻ bất tài trong nghề quỷ biện. Tôi thấy xấu hổ nếu phải chối bỏ những gì tôi viết, cho dù tôi hiểu rất rõ sự chối bỏ bản thân là lối ứng xử châu Á khôn ngoan và hữu hiệu, vừa giữ được sĩ diện cho các bậc cầm quyền, vừa đảm bảo an toàn cho bản thân và ngòi bút, bởi các vua chúa và trưởng tộc phương đông rất khoái thứ chủ nghĩa duy cảm cải lương. Họ thích nhìn những kẻ tôi tớ cúi đầu run rẩy nước mắt lã chã hai hàng trước mặt họ. Đã từ lâu phương Đông có truyền thống trị nước bằng hứng cảm chứ không bằng luật pháp... Trước tôi, đồng thời với tôi, và cả thế hệ sau chúng tôi, đâu đâu cũng diễn ra những màn cải lương duy cảm như thế. Chúng gợi cho tôi cái cảm giác mà Jean Paul Sartre đã gọi chính xác trong tác phẩm của ông : La Nausée. Tôi quyết định đo cuộc sống bằng chiều cao của hạnh phúc chứ không bằng chiều dài năm tháng. Tôi quyết định sống như một người tự do. Tôi tự tạo cho mình một mặt trời tự do ngay trên mảnh đất sình lầy. Và vào khoảnh khắc quyết định ấy, tôi tự thấy tôi hoàn toàn thay đổi : Hạnh phúc. Hoàn toàn hạnh phúc trong cô đơn tuyệt đối và cùng cực. Tôi điên chăng ?... Hay tôi là kẻ khoác lác cố nặn ra những ảo giác để tự an ủi, tự huyễn hoặc ?... Nhiều người cho là thế. Họ không tin tôi có thể tự do. Ai có thể tự do khi hết thảy những bạn bè xung quanh đều được gọi đến giao nhiệm vụ giám sát và dù muốn hay không họ cũng buộc phải trở thành các mouchards theo dõi anh ? Ai có thể tự do khi bước chân đến tiệm cà phê nào lần thứ ba là tức khắc có kẻ ngồi áp sát lưng mình ?... Ai có thể tự do khi thư từ và mọi liên lạc với thân nhân bị kiểm soát, tịch biên vô điều kiện ?... Thế đấy ! Nhưng tôi vẫn thấy tôi là người tự do. Tôi nói điều tôi muốn nói, tôi viết những gì tôi muốn viết, cho dù những trang viết ấy không được phép in. Vào năm 1991, những tháng người ta giam tôi vào tù, tôi vẫn có nguyên cảm giác tự do như thế. Tôi nghĩ những gì tôi muốn nghĩ. Tôi rung cảm với những gì chìm lắng trong tim tôi và khiến tôi lay động. Những cuộc hỏi cung và ba người đàn ông trước mặt tôi thuộc về một thế giới khác. Thế giới đó không liên quan tới cuộc sống nội tâm - cuộc sống chính của tôi. Phòng tù vô số muỗi, quơ tay là tóm dược. Tôi bắt rất nhiều muỗi. Tôi cũng bắt những con bọ màu đen nhung nhúc trong tấm chăn bông cũ nát người ta phát cho tôi, tấm chăn đầy những đám máu khô của tù nhân nào trước đó bị kiết lị để lại. Tôi bắt rệp trong các kẽ giường. Với xác đám bọ, tôi dàn lại cảnh vượt sông Elbe trong cuốn phim "Giải Phóng" của Boldartchuk và cảnh trận Watterloo trong phim Napoléon bé tí. Tôi so sánh cách dàn cảnh của người Nga với người Pháp bởi tôi vốn mê điện ảnh, dầu rằng ở nơi bùn lầy nghèo đói này điện ảnh là giấc mơ quá xa xôi và xa xỉ. Nhưng tôi vẫn mơ. Tiếp tục mơ. Với xác rệp thay cho các chiến xa hoặc đại bác, xác muỗi và bọ thay cho các binh đoàn, tôi hồi tưởng những cuốn phim xưa làm tôi mê mẩn. Và, tôi nhớ cha tôi. Người cha tôi yêu một cách cáu giận, ấm ức. Một người cha vừa quá đỗi ấm áp vừa khắc nghiệt bất công. Ông yêu tôi nhưng ông không thể vượt qua được những nguyên tắc cứng rắn của giáo lý phong kiến. Tôi yêu ông nhưng tôi không thể không là đứa con bất tuân lệnh. Vào lúc đó, tôi thiếu vắng ông và hình ảnh ông luôn hiện lên xâm chiếm tâm hồn tôi, ngoài những cơn mơ nghệ thuật. Tôi giải bày với ông, cãi cọ với ông, trách móc ông, ấm ức khóc cùng ông... Điều này đôi khi xảy ra ngay giữa các cuộc hỏi cung, trong lúc tai tôi vẫn nghe và miệng tôi vẫn trả lời như cuốn băng ghi âm được mở lại... Nhờ kinh nghiệm của những ngày ấy, tôi hiểu vì sao Servantes đã viết được cuốn Don Quichote trong tù. Chắc chắn Servantes cũng tự do trong khung trời riêng của ông. Ông tự do ngay giữa chốn ngục tù. Và cái tự do ảo đó mạnh mẽ đến mức ngoại cảnh trở nên mờ nhạt, yếu ớt, hư vô. Ngoại cảm bất lực chẳng còn mảy may tác động đến tâm tư tình cảm của nhà văn. Tự do ấy do chính ông tạo ra. Tự do ảo. Cái tự do nảy sinh trong thách thức với nghịch cảnh. Cái tự do tồn tại như một mặt trời thần tiên vì chỉ riêng một người nhìn thấy, một người được chiếu sáng và sưởi ấm. Tự do ấy là quyền năng tối thượng của nhà văn, là hành vi thiêng liêng ăn cắp lửa. Không ai có thể đem lại cho anh ta điều đó, ngoại trừ chính anh ta. Tự do đó là khoảng sinh tồn của ngòi bút. Dại khờ quá chăng, điên rồ quá chăng, để tìm kiếm một tự do như thế ?... Có lẽ... Hoặc anh chối, hoặc anh tự do như thế để viết những gì xứng đáng. Tài năng ư ?... Cái đó thượng đế cho. Còn tự do, lòng tự tin và nhân cách sẽ được kiến tạo. Trên mặt đất có hằng hà sa số lối đi. Tôi không ngu ngốc và đồi bại tới mức cho con đường tôi đi là duy nhất đúng. Nhưng tôi biết mọi sự trên đời đều có giá và con người là kẻ tạo tác nên số phận của mình vừa lãnh nhận mọi phản hồi của chính số phận ấy. Khi bức tường Berlin sụp đổ, vũ trụ tưởng vỡ tung vì tiếng gào thét sung sướng của mấy đổ. Nền chuyên chính vô sản sụp đổ... Người ta ngỡ ngàng khi thấy chân trời xanh màu xanh xa xôi hằng mong ước. Màu xanh của tự do. Khoảng khắc ấy hàng vạn văn nghệ sĩ của Liên Xô cũ và các nước Đông Ấu khóc vì sung sướng. Tiền đồ của văn chương nghệ thuật mở ra trước mắt họ. Cùng với tự do... Nhưng những giọt nước mắt sung sướng chưa kịp khô, những giọt lệ khổ đau đã bắt đầu tuôn chảy. Một khoảng lặng im kéo dài, bối rối thẹn thùng. Rồi lẻ tẻ vài người mạnh dạn thổ lộ nỗi boăn khoăn bứt rứt, và sau cùng cả đám đông công khai thú nhận sự bất lực của bản thân. Họ không viết được nữa. Tôi nhớ câu nói của nữ thi sĩ Bungarie nổi tiếng : "... Bao nhiêu năm trước đây, chúng tôi đã mơ ước được viết tự do. Bây giờ, tự do đến rồi và chúng tôi không còn gì để viết..." Nhà thơ này đã sang Việt Nam nhiều lần. Một người đàn bà thông minh xinh đẹp. Lời thổ lộ của bà làm tim tôi se sắt. Nhưng tôi biết tôi không thể làm gì được cho bà, cho bà và cho những người cùng cảnh ngộ như bà. Bởi tự do không phải là một thứ châu báu cất trong hoàng cung, ba ngàn năm sau lấy ra vẫn còn nguyên giá trị. Tự do như kiếp nhân sinh. Như kẻ đồng hành. Ta phải học cách sống có nó và xứng đáng với nó. Thời xưa có một hoàng đế Trung Hoa chỉ thích ăn thịt một loại chim rừng. Quần thần sai người đi bắt loài chim ấy về nuôi trong vườn cấm có lưới quây. Khi chim non vừa mở mắt, họ liền bắt chúng nhét vào những ống nứa khoét lỗ chỉ để thò mỏ và chắn ra ngoài. Chim được nuôi bằng ngũ cốc quý và các loại quả tinh khiết. Khi lớn lên, chúng có thân hình đúc khuôn như ống nứa, thịt nung núc nhưng cánh và chân teo lại, lúc nhà bếp chẻ ống nứa lấy chim ra thịt, lũ chim béo ục ịch chỉ nhảy được vài bước ngắn rồi lăn kềnh xuống sàn... Đó, nguyên tắc thích ứng. Hàng vạn văn nghệ sĩ dưới chế độ xã hội chủ nghĩa đã được nuôi như lũ chim đó... Đau xót thay, tiếc nuối thay, bao nhiêu tài năng đã hư hao tàn lụi ?!... Tuy nhiên bất luận hoàn cảnh nào cũng tồn tại những con chim tự do. Loài chim quen với những đỉnh cao chóng mặt và tìm thấy hạnh phúc khi bay qua những đỉnh cao ấy. Trong mưa bão. Trong đơn độc. Kiêu hãnh ngay giữa khổ đau và đơn độc. Tôi có thể kể tên một người trong số đó : Bulgakov. Không chọn con đường biệt xứ như Soljénitsyn, như Pasternak, ông ở lại nước Nga, chịu đầy đọa nhiều năm dài, bị cô lập, bị rình mò, đi đóng gạch và làm những việc thổ mộc nhọc nhằn khác để tồn tại. Nhưng ông đã sống như một người tự do, ông đã viết như một người tự do. Những tác phẩm của ông : "Trái tim chó", "Nàng Marguerite và Nghệ nhân" đã được viết dưới ánh sáng của mặt trời tự do. Mặt trời ấy, chính ông, một tâm hồn Nga cao thượng và mãnh liệt đã tạo tác. Lịch sử loài người tính theo lịch Thiên chúa sắp trọn hai ngàn năm. 20 thế kỷ. Nhưng trước công lịch, phương Đông đã có Xuân Thu chiến quốc, phương Tây đã có Thập Tự chinh, nhân loại đã buồn vui, đau khổ, sung sướng... Nhân loại đã suy nghĩ. Các dã sử, huyền sử đã được truyền tụng, dồn tích như các lớp phù sa lắng đọng trong tiềm thức con người. Chúng là một phần tài sản của ta hòa trộn cùng những mầm mống tài năng và bệnh tật mà tổ tiên, dòng tộc gieo cấy vào huyết mạch. Đối với nhà văn, thứ tài sản tinh thần đó quan trọng hơn tài sản theo nghĩa đen của cuộc đời thế tục. Những năm còn trẻ, không biết do run rủi nào tôi được đọc vở kịch Esope. Ngay tức khắc hình ảnh người nô lệ này chinh phục tôi. Nhờ anh ta, tôi hiểu Tự do là khát vọng mãnh liệt nhất, thách thức khắc nghiệt nhất đối với con người. Tự do, ấy là thước đo chiều cao nhân cách. Lời cuối của Esope, trước khi nhảy xuống vực như sau : "...Với tình yêu, ta còn xanh quá. Nhưng với Tự do ta đã chín rồi. Vực sâu đâu, con đường ta đã chọn. Ta sẽ chết, bởi cái chết ta trở thành người tự do..." Chế độ nô lệ đã qua từ lâu, nhưng khát vọng tự do vẫn đang còn mới. Đối với người viết văn sống trong những vùng đất sình lầy, hình ảnh người nô lệ Esope hẳn còn có ích cho họ, một khi họ muốn cầm bút một cách xứng đáng. Cái tự do hiện tồn của Esope chính là cái tự do ảo của nhà văn là tiền để cho tự do đích thực của đám đông xung quanh họ. Vậy thì, xin các văn nhân, các anh có thể chịu hành hạ, sống khổ nhục tù đầy, thậm chí có thể chết. Nhưng chớ bao giờ đánh mất nó. Hà Nội 25-8-1999 Dương Thu Hương -------------------- ![]() Trên đời có ba thứ nguy hiểm nhất: -Rượu ngon làm ta mất trí. -Tiền nhiều làm ta bất chính. -Nhiều người iêu làm ta đau khổ nhiều nhất. |
|
|
|
Aug 11 2009, 10:24 AM
Post
#8
|
|
|
Lớp 2 ![]() ![]() Group: Học Sinh Posts: 93 Joined: 23-February 07 Member No.: 8,867 |
còn tiếp không SL? thx |
|
|
|
Aug 11 2009, 11:17 AM
Post
#9
|
|
|
Những Ngày Xưa Thân Ái ![]() ![]() ![]() ![]() ![]() ![]() ![]() ![]() ![]() ![]() Group: Giám Thị SH Posts: 3,306 Joined: 27-March 06 From: Đà Lạt Phú Quốc Member No.: 7,287 |
Có lẽ còn tiếp ... mà Hạt Sương Đọng Cành Lan giã từ TV cũng khá lâu rồi
-------------------- ![]() ![]() |
|
|
|
Apr 9 2010, 04:53 PM
Post
#10
|
|
|
Lớp 2 ![]() ![]() Group: Học Sinh Posts: 51 Joined: 27-March 10 From: Mountain Member No.: 40,670 |
|
|
|
|
![]() ![]() |
|
Loading...
|
|
Lo-Fi Version | Time is now: 8th September 2010 - 10:50 PM |